Slider[Style1]

Style2

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style4

Style5

Trống đồng – Báu vật xứ Mường

Người Hòa Bình.Com - Trống đồng trở thành một phần trong văn hóa, tâm thức, tạo lập một vị thế quan trọng trong đời sống tinh thần của người Mường ở Hòa Bình.

Văn hoá Hoà Bình là một nền văn hóa đa dân tộc, trong đó dân tộc Mường chiếm một tỉ lệ khá lớn tới hơn 60% dân số. Văn hoá Mường và những nền văn hoá khác đã tập hợp lại và làm nên những nét riêng của văn hoá Hoà Bình. Bản sắc văn hoá Hoà Bình bao gồm: văn hoá Cồng Chiêng, các truờng ca, văn hoá ăn, ở, mặc và đặc biệt là văn hoá trống đồng. Vốn là người dân tộc Mường, hơn 30 năm nay ông Bùi Thanh Bình đã sưu tầm, lưu giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cổ truyền của dân tộc mình. Sau những năm tháng miệt mài tìm kiếm, bảo tàng của ông đã có vô số hiện vật về cuộc sống, văn hóa và con người Mường. Một trong số đó phải kể đến những chiếc trống đồng của người Mường.


Những chiếc trống đồng được sưu tập và trưng bày tại Bảo tàng tỉnh là những hiện vật vô giá trong các giai đoạn phát triển của nền văn hóa Hòa Bình.

Hiện nay, tổng số trống đồng phát hiện được tại Hoà Bình đến nay là 112 chiếc. Ngày xưa, trống Đồng rất được coi trọng, nó vừa là một công cụ, vừa là nhạc cụ và được sử dụng hầu hết trong các nghi lễ quan trọng : tế thần, cầu mưa, hội hè, tang lễ. Trống Đồng là biểu hiện của uy quyền, của giàu sang, của thế lực. Tiếng trống đồng là hiệu lệnh thúc giục tiến quân khi có kẻ thù xâm lăng đất nước, là vật tuỳ táng theo người quá cố. Chính vì vậy, trống Đồng còn mang những giá trị về tôn giáo, xã hội.

Theo sự phân loại của Heger- một học giả người Áo, đưa ra từ năm 1902, trống đồng Hoà Bình được xếp vào loại trống Heger II. Cách phân loại này của ông đã được số đông học giả trên thế giới cũng như các nhà khoa học Việt chấp nhận trong việc nghiên cứu về trống đồng Việt nói chung, trống đồng Hoà Bình nói riêng. Về hình thức, trống đồng Mường vẫn còn giữ khá nguyên vẹn những truyền thống của trống đồng Đông Sơn. Các hoa văn trang trí trên trống Heger II khá phong phú, đi từ xu hướng hình học hoá, cách điệu hoá đến xu hướng tả thực và ở giai đoạn cuối lại quay về lối trang trí hoa văn hình học hoá. Trống Heger II, trên mặt trống thường có 4 con cóc tượng trưng cho việc gọi nước về giúp cho mùa màng.

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, trống đồng Heger II xuất hiện và phát triển trong một thời gian dài, phân bố trong một không gian khá rộng, tập trung ở những vùng cư trú của người Mường. Các nhà nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ “không gian Mường” để xác định sự phân bố của trống đồng Hoà Bình. Dù ngày nay, vấn đề tìm hiểu, kết luận một cách chính xác nguồn gốc kỹ nghệ chế tạo, nguồn gốc của mục đích chế tạo, nguồn gốc về chủ nhân sử dụng…chưa có được lời giải đáp thoả đáng, song sự hiện diện của loại trống đồng Heger II trên vùng cư trú của người Mường trong gần một thiên niên kỷ là một bằng chứng hùng hồn của truyền thống Đông Sơn, là sự tiếp nối và sáng tạo nền văn hoá, văn minh Việt cổ.

Từ những giá trị tự thân của hiện vật, có thể khẳng định trống đồng là tài sản quý giá được coi là báu vật mà cha ông để lại, là biểu tượng của nền văn minh và văn hoá Việt Nam thời dựng nước. Trong đó, Hoà Bình là một trong những tỉnh phát hiện và lưu giữ nhiều trống đồng nhất trong cả nước. Trống đồng đã từng gắn bó với cuộc sống của người Mường. Trở thành biểu tượng văn hoá, làm nên bản sắc Mường nên việc bảo tồn, giữ gìn, phát huy giá trị của trống đồng chính là giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá đặc trưng của dân tộc Mường.

Xem nội dung chi tiết tại đây:



VOVGiaoThong.vn
Video: Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam

Du lịch Chùa Tiên

Người Hòa Bình.Com - Chùa Tiên – Mẫu Đầm Đa (hay còn được người dân gọi là Chùa Tiên – Đầm Đa) là một ngôi chùa thuộc địa phận xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Chùa được Bộ văn hóa – Thông tin Việt Nam cấp bằng di tích lịch sử văn hóa tháng 9 năm 1989.


Khu Du lịch Chùa Tiên – Đầm Đa là một quần thể du lịch bao gồm nhiều hang động, đền chùa tuyệt đẹp, nằm bên kia sườn dãy núi Hương Sơn Chùa Hương. Ngoài ra quần thể danh thắng Chùa Tiên là di chỉ khảo cổ học cấp quốc gia.


Lễ hội chính của chùa Tiên được tổ chức vào 3 ngày: 4 – 6 tháng Giêng và kéo dài cho đến hết tháng Tư âm lịch. Mỗi năm lễ hội lại được tổ chức quy mô hơn, đông vui hơn, du khách bốn phương tìm về nhiều hơn. Gọi là lễ hội Chùa Tiên, nhưng đây là lễ hội chung cho cả khu di tích mà địa điểm chính được đặt ở Chùa Tiên.


Đến với lễ hội Chùa Tiên, du khách sẽ được thưởng thức một di sản văn hoá vừa vật thể, vừa phi vật thể. Những chiếc kiệu như từ truyền thuyết đi ra, như từ dã sử xuất hiện, vừa lạ vừa quen, vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, vừa bình dị vừa thiêng liêng. Những chiếc kiệu Thành hoàng làng là trung tâm của đám rước, được khiêng trên đôi vai của các nam thanh nữ tú dân tộc Mường. Chiếc kiệu được rước trên những đôi vai của niềm tin, của lòng thành kính và của những ước mong. Kiệu Thành hoàng có thể đi, có thể chạy, có thể bay khi có niềm tin và niền tin vào sự linh thiêng được tăng lên.

Cùng với đám rước, là những nghi thức tế lễ: có dâng rượu dâng hương, có đọc sắc phong của triều vua xưa phong cho các vị Thành hoàng trong khu di tích, có dâng chúc văn cầu mong thần linh ban tặng mưa thuận gió hoà, nhà nhà an khang, xóm làng thịnh vượng… Đó là những nghi thức đã trở thành truyền thống để tôn vinh các vị thần Thành hoàng làng – những người đã vì nước vì dân được tôn thờ.


Chùa Tiên toạ lạc dưới chân núi Tung Sê trên một khu đất khá bằng phẳng có mặt tiền quay về hướng Đông Bắc. Theo truyền thuyết, Chùa Tiên được xây dựng từ rất xa xưa theo lối kiến trúc nhà sàn với nguyên vật liệu là tranh tre nứa lá. Trải qua năm tháng, ngôi chùa đã bị xuống cấp. Năm 1998, bằng nguồn vốn trùng tu tôn tạo di tích của Bộ Văn hoá Thông tin và sự đóng góp của chính quyền và nhân dân trong xã, ngôi chùa đã được trùng tu tôn tạo khang trang như ngày nay. Đến dâng hương tại Chùa Tiên, du khách sẽ có dịp được bày tỏ lòng thành kính lên các đức Phật các ước mong của mình.Phía sau Chùa Tiên ngay trong dãy núi Tung Sê, du khách sẽ được tới thăm danh thắng Động Tiên với nhiều điều kỳ thú. Đây là di tích khảo cổ đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng cấp quốc gia năm 1989.

Bên cạnh giá trị khảo cổ, động Tiên còn là di tích có giá trị thẩm mỹ cao. Đi sâu vào bên trong, ta sẽ bắt gặp không gian đầy huyền thoại. Ngẩng đầu lên ta bắt gặp một vòm trần lô nhô, đông đúc căng chật hàng trăm, hàng ngàn khối nhũ đá rủ xuống. Chỗ thì vàng óng toả ra như một rừng hoa, chỗ thì trắng xoá, bầu thon như những viên ngọc; chỗ thì rực rỡ như một căn phòng với các chùm đèn trang trí. Các khối nhũ đá được chạm chổ tinh tế những hình thù kỳ lạ, bí ẩn, đường nét uyển chuyển, mềm mại và khá cân đối.


Nét đặc biệt ở động Tiên là quần thể các cột đá mọc lên từ nền hang, giữa phòng là một khối nhũ lớn, xung quanh là bạt ngàn các cột nhũ nhỏ như hội quần tiên ở rừng thệ đà đông đúc các vị La Hán, các Bồ Tát, các thanh văn quây quần bên nhau nghe đức Phật Như Lai giảng kinh. Tất cả đều lặng lẽ trang nghiêm, không xô bồ ồn ã. Không gian cũng tĩng mịch u huyền càng tăng thêm vẻ tôn nghiêm. Và du khách càng ngắm, càng ngỡ như được đắm chìm vào tiên cảnh ấy. Và con người như được cảm thấy thanh cao hơn.
Theo cungphuot.info

Khám phá Bản Lác

Người Hòa Bình.Com - Bản Lác, một thung lũng yên bình, hữu tình, là khu du lịch nổi tiếng của huyện Mai Châu, Hòa Bình. Chính vì lưu giữ và lan truyền được những nét văn hóa đặc sắc của vùng miền, du khách trong và ngoài nước nườm nượp đến với bản Lác để tận hưởng vẻ đẹp lãng mạn của Tây Bắc và hòa mình vào cuộc sống của đồng bào vùng cao.


Trước nhà sàn là nơi người dân bày bán những chiếc khăn với hoa văn thổ cẩm rất tinh xảo và độc đáo, những đồ lưu niệm, đồ trang trí (nguồn: Đỗ Thảo)

Dân trong bản Lác chủ yếu là người Thái đen, sống bằng nghề trồng lúa nương và dệt thổ cẩm. Các bé gái 8, 9 tuổi đã biết dệt, biết thêu khăn piêu, thêu áo váy. Phụ nữ Thái đen khéo léo và chăm chỉ dệt thổ cẩm, thêu thùa và sáng tạo ra những món đồ trang trí, đồ chơi từ thổ cẩm như vòng đeo tay, dây trang trí, quả còn, móc khóa, con thú, những chiếc ví cầm tay, túi xách, ba lô... xinh xắn và bắt mắt. Họ đem những món đồ làm ra từ bàn tay khéo léo bày bán ở các sạp hàng trước nhà, dưới chân cầu thang nhà sàn. Đồ lưu niệm được bày, được treo lạ mắt; những chiếc khăn, chiếc thảm, chiếc chăn với họa tiết cầu kì, phong phú được xếp trên các giá, xếp song song nhau thành hàng lối, tựa như một mê cung của thổ cẩm.


Khăn thổ cẩm được treo trên các giá, rất cuốn hút (nguồn: Đỗ Thảo).


Hai bạn trẻ mải mê trong mê cung của thổ cẩm (nguồn: Đỗ Thảo) 

Điểm bắt mắt hơn nữa là những chiếc váy, chiếc áo truyền thống của người Thái, người Mường được bày trước nhà sàn để bán và cho du khách thuê.  Du khách, đặc biệt là khách nước ngoài tha hồ lựa những bộ trang phục để hóa thân thành hoa của núi rừng Tây Bắc.


Các bạn trẻ hào hứng khi hóa thân thành những thiếu nữ vùng cao xinh đẹp.


Du khách nước ngoài hứng thú thử những chiếc khèn, tù và.

Được hòa mình trong nếp sinh hoạt đồng bào người Thái tại các nếp nhà sàn xinh xắn là trải nghiệm thú vị. Những nhà nghỉ homestay rộng rãi, thoáng mát, đầy đủ chăn, đệm, gối gọn gàng và khá tiện nghi, nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ, giúp cho du khách có thể cảm nhận trọn vẹn lối sống nơi đây, ngồi ở thềm của, nhâm nhi bầu không khí trong lành và thưởng ngoạn cảnh quan xinh đẹp như bức tranh của miền sơn cưới.


Những đồ lưu niệm được bày bán rất bắt mắt (nguồn: Đỗ Thảo)


Những con thú được may từ thổ cẩm, một món đồ lưu niệm khá độc đáo (nguồn: Đỗ Thảo)

Trong bữa cơm, với chén rượu ngây ngất, được thưởng thức những sản vật riêng có của núi rừng như măng đắng, gà đồi, cá suối, nếp nương... được bà con chế biến thành những món ngon say lòng người.


Gà đồi là món ngon không thể bỏ qua khi tới bán Lác (nguồn: Đỗ Thảo)


Măng đắng, món ăn khá lạ miệng và hấp dẫn của vùng cao (nguồn: Đỗ Thảo)

Không gian yên tĩnh của buổi tối bị phá vỡ khi những ánh lửa trại bừng cháy, du khách và bà con giao lưu đốt lửa trại, nhảy sạp, mê đắm trong tiếng khèn và điệu múa xòe Thái tình tứ.


Chàng trai vùng cao bên điệu khèn trong đêm lửa trại giao lưu với du khách (nguồn: Như Quỳnh)

Và sớm mai, tham gia phiên chợ của dân bản giữa tinh mơ trong trẻo, cùng dạo bộ thăm thú và mua sắm những vật phẩm mà bà con mang ra chợ trao đổi, ăn những món dân dã để thấy được những gì hồn hậu, thân thuộc nhất của vùng đất này.


Một khu homestay trong bản (nguồn: Đỗ Thảo)

Tất cả mọi nếp sinh hoạt, những vật dụng quen thuộc của cuộc sống vùng cao được tái hiện sinh động trong không gian của bản Lác, để lưu giữ nét đẹp của vùng cao và lan truyền những điều thú vị cho mọi miền.

Đỗ Thảo - Báo Lao Động

Tết của người Mường tại Hòa Bình có gì đặc biệt?

Người Hòa Bình.Com - Người Mường gọi là: Thết Năm mởi - dịch sang tiếng phổ thông là: Tết Năm mới, người Kinh gọi là Tết Nguyên đán.

Người Mường ăn tết trong 8 ngày

Theo phong tục truyền thống, người Mường ăn Tết cổ truyền kéo dài 7 ngày (thực chất là 8) ngày, bắt đầu từ 30 tháng chạp năm cũ đến hết ngày mồng 7 tháng giêng. Lịch Mường xưa là lịch tính theo tuần trăng, song cách tính khác chút với người Kinh, tính “ngày lui, tháng tới”.

Cách tính lịch của người Mường vẫn tính theo âm lịch, tuy nhiên lại lùi lại 1 ngày. Theo như lịchâm thông thường, ngày mồng một đầu tháng của người âm lịch không có trăng, song ngày mồng 1 lịch Mường đã cói trăng non, nghĩa là tính đúng theo tuần trăng. Cũng theo cách tính lùi như vậy, ngày 14 là ngày trăng tròn.

Người Mường có phong tục trồng cây nêu ngay cạnh ngõ ra vào, trong sân hay phía trước của ngôi nhà sàn. Cây nêu là một biểu tượng , một nét riêng trong văn hóa người Mường. Chuyện kể rằng, từ ngàn xưa, thuở hồng hoang mệ vua Hoàng Bà đi đánh quỷ, lũ quỷ thua to bỏ chạy, theo chỉ dạy của mệ vua các nhà đều cắm một cây nêu để báo tin thắng trận và nhận đất đai cho dân Mường.


Cây nêu được dựng lên ở mỗi nhà mỗi khi tết đến. Ảnh internet.

Sau này nó có ý nghĩa là sự báo cáo với đất, trời về sự tồn tại của gia đình mình và cũng là trấn tà không cho lũ quỷ thâm nhập vào nhà. Tục lệ này được duy trì đến ngày nay và cây nêu được cắm mỗi khi Tết đến, xuân về với ý nghĩa như trên.

Tại các địa phương như Cao Phong, Tân Lạc, Lạc Sơn, phong tục này vẫn được duy trì cho tới ngày nay.

Khác với người kinh thường đến khu mồ mả của tổ tiên để dọn dẹp và mời các cụ về ăn tết vào ngày 22,23 tháng chạp. Thì người Mường lại làm điều đó vào ngày 27 tháng chạp. Toàn bộ con cháu trong gia đình, dòng họ tập chung nhau lại, mang theo cuốc, xẻng, dao, đến đề dọn dẹp phần mộ của tổ tiên, đắp những phần bị sạt lở, phát đi những cây cỏ mọc dại trên phần mộ.

Ngày 27 tháng chạp ở vùng Lạc Sơn còn gọi là ngày tha lả - rửa lá: Các chị em phụ nữa mang toàn bộ bát đũa, xoong, nồi, lá dong... ra sông, suối rửa sạch sẽ. Cai viếng đồ cơm hàng ngày trong suốt năm hôm ấy được cọ rửa sạch sẽ và người ta thay khưa viếng mới... Các nông cụ như: cày, bừa, cuốc, xẻng cũng được rửa sạch sẽ để chúng cùng ăn Tết... Đây là hình thức tẩy trần, sạch sẽ để đồ vật và con người cùng đón năm mới, như thế mới gặp nhiều may mắn, an lành.

Bánh chưng, bánh uôi và thịt chua

Thông thường vào giữa hay nửa cuối tháng chạp, nhiều gia đình đã bắt đầu chặt nứa hay cây dang loại bánh tẻ về để tước, chẻ lạt gói bánh chưng, làm cặp nướng thịt.

Bánh chưng của người Mường về hình thức không giống như bánh của người Kinh. Bánh của người Mường làm bằng lá dong và lá chít, thân bánh hình dài và ít nhân. Theo những người cao tuổi ở đây, bánh dài sẽ để được lâu hơn và khi ăn sẽ rất tiện trong việc cắt bánh.

Một trong những đặc sản mà người Mường mời khách vào ngày tết này đó là món thịt chua. Thịt chua được làm từ 2 thành phần chính: thịt và thính xay mịn, cùng với đó là những nguyên liệu riêng, nhằm tạo ra một hương vị đặc trưng chỉ có ở vùng sơn nước Hòa Bình.


Món thịt chua của người Mường nơi đây.

Thịt chua thường được ăn cùng với nhiều loại rau sống, như rau mơ, lá sung, rau đinh lăng... Ngoài ra có thể kèm rau húng, bạc hà, rau mùi tùy thích. Thịt chua không ăn cùng với nước chấm pha loãng mà phải chấm với tương ớt mới đúng điệu. Ăn đến đâu là tưởng như quên trời quên đất đến đó. Bởi cái vị béo ngậy của mỡ lợn lửng, cái vị ngọt của thịt nạc, cái vị giòn của bì, vị mặn vừa của gia vị ướp cùng, pha lẫn vị chua lên men tự nhiên, rồi vị cay cay của ớt, vị chát của các loại rau, và đọng lại sau cùng là vị thơm lừng của thính.

Ngoài bánh chưng và thịt chua, thì bánh uôi cũng là một thứ không thể thiếu trong mâm cỗ của người Mường. . Bánh có rất nhiều tên gọi khá hay, ý nghĩa và mĩ miều khác như bánh tình yêu, bánh cặp, bánh vợ chồng hay bánh đoàn kết.

Nguyên liệu chính để làm nên loại bánh thơm ngon này là bột gạo nếp nương. Loại bánh rất giản dị, có hình dáng và hương vị rất đặc biệt đem lại sự thích thú cho người ăn. Bánh uôi có hai loại bánh nhân mặn và bánh ngọt. Bánh nhân ngọt được làm từ hạt nho nhe (một loại hạt có ở xứ Mường, Hòa Bình) hoặc từ đậu xanh. Còn nhân mặn sẽ có thịt lợn tẩm ướp gia vị.

Người Mường thường thịt lợn để ăn tết, mỗi phần thịt sẽ được chế biến các món khác nhau, từ bánh chứng, thịt chua đều phải dùng tới thịt lợn. Người Mường ở Lương Sơn họ thường tập chung nhau lại vào ngày 22 tháng chạp, cùng nhau mổ lợn để ăn tết.

Lợn được người dân nuôi từ đầu năm, theo cách chăn thả chứ không nhốt vào chuồng, tới cuối năm sẽ được một con lợn sạch, vào ngày 22 tức là ngày tạ mộ tổ tiên, họ cùng nhau thịt lợn và uống rượu ngô.

Bữa cơm chín lụi

Ngày 29 tháng chạp theo lịch Mường, tức ngày 30 Tết theo âm lịch, người Mường gọi ngày này là ngày chín lụn có bữa cơm chín lụn - nó tương đương như người Kinh gọi là bữa cơm tất niên, ăn vào buổi tối..., bữa cơm đoàn tụ gia đình trong năm.

Đây cũng là ngày các thầy mo, clượng, mỡi mang túi khót của mình ra, lấy rượu ngon rửa sạch sẽ. Đây cũng là ngày họ truyền dạy các lời khấn quan trọng, các bí quyết hành nghề cho con cháu và học trò.

Vào thời khắc giao thừa nhiều nhà đánh chiêng, đánh trống, con cháu ra vó nước lấy nước về đặt trên bàn thờ tổ tiên, nước này ở vùng Kim Bôi gọi là nước Tiên, ở vùng Lạc Sơn gọi là nước Thặng Thiên. Ở vùng Mường Bi còn có tục gội đầu giao thừa, thậm chí có người còn tắm trong đêm giao thừa. ý là gột rửa mình sạch sẽ để sang năm mới cho mọi điều tốt lành, đẹp đẽ và may mắn hơn. Trong các nhà lang, nhà giàu còn có tục xuống sướng, xuống chuồng đếm trâu, bò, lợn.


Nhiều nhà sẽ đánh chiêng vào thời khắc chuyển sang năm mới. Ảnh internet

Tục cúng thờ tổ tiên của người Mường là thờ đích danh chứ không thờ chung như các dân tộc khác, ví dụ như người Kinh họ chỉ có một mâm cỗ, một ban thờ mời tất cả tổ tiên về đó. Người Mường lại khác, các mâm thờ các đời thường thờ đích danh, ví dụ như mâm thờ ông, bà nội đã khuất..., người Mường sắp mâm riêng và đặt lên đó 2 bát cơm, 2 bánh chưng, bánh uôi, hai đôi đũa cùng thực phẩm, nếu ông nội có 2 - 3 bà vợ thì theo đó người Mường đặt lên tương ứng 2 - 3 bát cơm, đôi đũa...Việc thờ này tùy theo từng gia đình, ít nhất họ cũng thờ tới 3 đời... đến đả cổ, dạ cố, tương đương như ông cố, cụ cố bên người Kinh...

Vùng Lạc Sơn và nhiều vùng khác có tục đi năm mới, nhiều nơi gọi là đi phần - tức là mang phần cho bề trên, cụ thể là: bố, mẹ đẻ, bố mẹ vợ, các anh bên nhà vợ, các nhà thầy thuốc mình đã mang ơn trong năm qua... Tục này thường đi trong nhiều đời, nếu người được mang phần như bố, mẹ vợ không còn nữa thì con, cháu phải mang phần đến nhà ngoại và đặt vào bàn thờ của người đã khuất. Ngày đi năm mới bắt đầu từ ngày 30 Tết đến ngày mồng 7 tháng giêng, tức là ngày Khai hạ.

Lễ đi phần năm mới bao gồm: một gói thịt lợn, một gói cơm nếp, một chai rượu và 2 cái bánh chưng, ngày nay có thêm gói mứt, gói kẹo, hay chè, thuốc lá... Đây là phong tục biểu thị sự tri ân, biết ơn với bề trên, với những người có công giúp đỡ mình trong năm qua.

Ngay ngày mồng 1 Tết (tức mồng 2 theo âm lịch) các phường bùa bắt đầu đi xắc bùa phát rác, thực chất là đi các gia đình để chúc Tết. Cách chúc Tết này rất độc đáo và chỉ có riêng ở người Mường. Phường bùa thực chất là đội hình diễn tấu chiêng có từ 6 - 12 người, trong đó, có một người đứng đầu gọi là ông trùm phường.

Đoàn đi đến đâu tấu chiêng xắc bùa đến đó, khi vào đến sân nhà ai ông trùm phường cất bài hát chúc Tết gia đình, đó là bài phát rác, tức là mở nước, chúc cho gia đình chủ nhà mạnh khỏe, sang mùa năm mới làm ăn phát đạt, mát lành như nước, trồng lúa gặp đủ nước, chăn nuôi gia súc phát triển, làm ăn giàu có, sau đó gia chủ xuống sân mời phường bùa lên nhà uống chén rượu xuân.

Ngày mồng 7 tháng giêng tức là ngày Khai hạ, đây cũng là ngày cuối cùng của Tết. Các gia đình có tổ chức Tết lại, tức là làm làm lại Tết cũng sắp các mâm cúng mời tổ tiên và thành hoàng, thổ công vua bếp ăn Tết ngày cuối của Tết.

Ngày nay, mặc dù với sự giao thoa văn hóa ở các vùng miền diễn ra mạnh mẽ, nhưng người Mường vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng của vùng đất sơn cước Hòa Bình.

Công Luân - Báo điện tử Người đưa tin

Nhà Lang - Hòa Bình: Hồi sinh từ đống tro tàn

Người Hòa Bình.Com - Hai năm, sau khi ngôi nhà Lang - ngôi nhà sàn đẹp nhất của khu bảo tồn không gian văn hóa Mường bị cháy, họa sỹ Vũ Đức Hiếu cùng với những người bạn, những nghệ sỹ, nhà nghiên cứu văn hóa đã tìm mọi cách để phục dựng ngôi nhà Lang này. Nếu ngôi nhà lang cháy là một sự mất mát rất đáng tiếc thì việc ngôi nhà Lang hồi sinh trở thành một biểu tượng của tình yêu mà cộng đồng dành cho những giá trị văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa Mường.

Bảo tàng “Không gian Văn hoá Mường” là một công trình văn hóa - nghệ thuật, được bắt nguồn từ niềm đam mê văn hóa Mường của họa sỹ Vũ Đức Hiếu. Sau 10 năm sưu tầm và gần 1 năm xây dựng, đến ngày 16/12/2007, Bảo tàng chính thức mở cửa. Bảo tàng nằm trên vạt đồi trong một thung lũng đá vôi nhỏ, hẹp có diện tích 5ha, cách Hà Nội 80km về phía Tây, cách trung tâm thành phố Hoà Bình 7km, trên con đường lịch sử mang tên đường Tây Tiến. Bảo tàng được chia làm 2 khu vực chung là khu Tái hiện và khu Trưng bày.

Lễ khánh thành nhà Lang thật sự là một ngày trọng đại đối với những người yêu mến Bảo tàng Văn hóa Mường.

Khu tái hiện: gồm 4 khu nhà sàn (nhà Lang, nhà Ậu, nhà Nóc, nhà Nóc trọi) đại diện cho 4 tầng lớp trong xã hội Mường. Nhà lang nằm trong quần thể không gian văn hóa Mường, là biểu tượng văn hóa quan trọng trong hệ thống văn hóa của người Mường. Nhà Lang có diện tích 106m2, dài 12,2m, rộng 8,7m, mặt sàn cách mặt đất 2 m. Kết cấu nhà: khung, sàn, vách bằng gỗ, mái lợp lá cọ. Trong nhà trưng bày nhiều hiện vật quan trọng, quý hiếm của người dân tộc Mường như chiêng, súng kíp… mà họa sỹ Vũ Đức Hiếu đã dày công sưu tầm trong suốt hơn 10 năm. Ngôi nhà có niên đại hơn 100 năm của gia đình bà Hà Thị Lợi, con gái một vị Lang đạo ngày xưa ở vùng mường Chậm - nay thuộc xóm Chiến, xã Nam Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Ngôi nhà được di dời và phục dựng tại Bảo tàng Không gian Văn hóa Mường đầu năm 2007 với sự hỗ trợ của một nhóm thợ người Mường ở huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

Tháng 10/2013, ngôi nhà lang bị cháy, trong một sự việc mà đến nay vẫn còn nhiều uẩn khúc, những điều chưa được làm sáng tỏ. Đối với họa sỹ Vũ Đức Hiếu - chủ nhân của không gian văn hóa Mường, cũng như những người bạn, những vị khách đã từng đặt chân đến đây, thì đó là một nỗi buồn đắng ngắt.

Ngôi nhà lang cùng các nhà khác nằm trong khu vực Bảo tàng đã được trang bị dụng cụ, phương tiện chữa cháy tại chỗ như bình chữa cháy, đặt các biển nội quy, tiêu lệnh chữa cháy, biển cấm lửa, cấm hút thuốc. Trong khu vực Bảo tàng có bố trí nguồn nước phục vụ công tác chữa cháy gồm: 1 bể trữ lượng 70m3, 1 bể trữ lượng 13m3, 1 bể trữ lượng 4,5m3 và một ao nước lớn. Lực lượng chữa cháy của Bảo tàng có 5 CBNV đều biết cách sử dụng phương tiện chữa cháy. Bếp lửa trong ngôi nhà sàn của người Mường được làm rất cẩn thận để cách nhiệt, cách lửa với các bộ phận khung, cột trong nhà, cùng với những quy định nghiêm ngặt về phòng cháy, chữa cháy, rất khó để “tự nhiên” có thể bùng phát một đám cháy. Đến giờ, họa sỹ Vũ Đức Hiếu, dù rất buồn và bức xúc, nhưng cũng đành phải gọi đây là một “tai nạn”, một tai nạn do sự thiếu ý thức của một vài người.

Những gì còn sót lại sau đám cháy của ngôi nhà lang có thể làm đau đớn cho bất kỳ ai đã từng đến ngôi nhà này, từng chạm vào những cây cột gỗ, hay ngồi hơ tay bên bếp lửa, thưởng thức mùi cơm nếp thơm. Những cột gỗ có tuổi đời hàng trăm năm, những chiếc chuông đồng, vật dụng bằng đồng cháy biến dạng… và đau đớn hơn, đó là những vật dụng ẩn chứa, ghi dấu trong đó những giá trị lịch sử và văn hóa đã bị thiêu dụi sau một đám cháy. Cùng với những công trình văn hóa những năm gần đây đang bị làm cho biến dạng thì sự việc cháy ngôi nhà lang trở thành một mất mát lớn đối với một di sản văn hóa. Nỗi buồn đó hẳn sẽ còn kéo dài rất lâu.

Nhà lang mất đi, đó không chỉ là sự mất mát của một tài sản vật chất có giá trị lớn, mà quan trọng hơn đó là sự mất đi của một hiện hữu văn hóa, cùng với những câu chuyện văn hóa Mường gắn với ngôi nhà lang cũng ít nhiều biến mất, không tìm lại được.

Xếp lại nỗi buồn, họa sỹ Vũ Đức Hiếu nghĩ rằng mình cần phải khôi phục ngôi nhà lang, không chỉ bởi ngôi nhà lang là trái tim của toàn bộ khu Không gian Văn hóa Mường, bảo tàng này không thể tồn tại nếu thiếu đi một ngôi nhà Lang. Và quan trọng hơn, anh và những người bạn của mình không muốn ngôi nhà Lang bị cháy sẽ chìm vào quên lãng, bị chôn lấp đi bởi những sự kiện ào át đến hàng ngày của đời sống. Một ý tưởng về sự mất mát của văn hóa được phục dựng từ hành động của những con người yêu văn hóa, nặng lòng với văn hóa đã được nung nấu hình thành.

Dự án « Nhà Lang - Giấc mơ hồi sinh» được chính thức phát động từ tháng 4/2015 với những kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn: họp báo thông tin về dự án, trình diễn thời trang, triển lãm ảnh để gây quỹ và kêu gọi nghệ sỹ đóng góp tác phẩm của mình - bán đấu giá để lấy kinh phí phục dựng nhà Lang. Mong muốn của họa sỹ Vũ Đức Hiếu cùng với những người cộng sự là biến quá trình phục dựng nhà Lang trở thành một hoạt động văn hóa. Ngôi nhà lang sau khi phục dựng sẽ khoác trên mình một câu chuyện tiếp nối về văn hóa.

Họa sỹ Vũ Đức Hiếu đã nhận được sự ủng hộ của anh em nghệ sỹ, từ Bắc vào Nam, sự ủng hộ của những người yêu nghệ thuật và văn hóa Việt, đặc biệt là những người nhìn thấy ở anh niềm đam mê, một tình yêu dành cho ngôi nhà Lang và văn hóa Mường. Những người bạn, những người nghệ sỹ, chuyên gia, người làm kinh tế đã tích cực tham gia các hoạt động quyên góp, vận động cộng đồng.

Những người yêu nghệ thuật thì đóng góp tiền, những nghệ sỹ thì đóng góp tác phẩm của mình. Nghệ thuật văn hóa mời gọi nghệ thuật. Một công trình văn hóa được phục hồi bằng chính những tác phẩm nghệ thuật. Đó là một động thái rất đáng trân trọng của những người nghệ sỹ và nhưng người yêu nghệ thuật. Đúng như những nhận định của nhà nghiên cứu văn hóa Phan Cẩm Thượng: “Sự kiện cháy nhà Lang tại Bảo tàng Không gian Văn hóa Mường năm 2013 đã trôi qua hai năm. Chủ nhân của nó muốn kêu gọi cộng đồng giúp đỡ phục hồi, và cụ thể bằng triển lãm tác phẩm nghệ thuật, và hoạt động đấu giá này. Những họa sỹ và nhà điêu khắc đã đáp lời, như là một sự ủng hộ văn hóa cho một lưu giữ di sản truyền thống. Chúng ta không cần nhắc lại sự kiện đó nữa, cũng như không cần nói về nghĩa cử của các nghệ sỹ, nếu như sự đóng góp bằng tác phẩm của họ không nhiều ý nghĩa nghệ thuật”.

Có tổng cộng 55 họa sỹ đã đóng góp tác phẩm để tham gia đấu giá ủng hộ việc phục hồi nhà Lang, và họa sỹ Vũ Đức Hiếu, cùng với cộng sự của mình đã có đủ kinh phí để phục dựng ngôi nhà Lang.

Khi đã có đủ kinh phí và nhận được sự ủng hộ của anh em bạn bè, nghệ sỹ, nghệ nhân và những người yêu nghệ thuật, việc phục dựng ngôi nhà Lang đối với một người đã lặn lội hơn 10 năm với văn hóa Mường như họa sỹ Vũ Đức Hiếu cùng với những người thợ không quá khó khăn.

Sau khi đánh giá được mức độ bị hủy hoại, những phần khung cột còn có thể sử dụng, họa sỹ Vũ Đức Hiếu cùng với thợ đã lên phương án phục hồi, tìm kiếm gỗ thay thế, cũng như việc đảm bảo giữ nguyên bản, kích thước, cấu trúc và vật liệu của ngôi nhà. Những kỹ thuật dựng nhà sàn của người Mường - chỉ dùng kết cấu tỳ đè chứ không dùng mộng hay đinh chốt… vẫn được những người thợ xây dựng sử dụng. Những phần khung cột cũ và quá giang bị cháy xém bên ngoài vẫn tiếp tục được sử dụng. Những phần không thể tái sử dụng, được giữ lại và nhận được sự hỗ trợ - xử lý miễn phí hoàn toàn - của Viện Bảo tồn di tích. Kỹ thuật này là một trong những giải pháp hiện đại để bảo tồn những phần di tích còn có thể giữ lại một phần nguyên trạng. Chính vì thế mà ngôi nhà sàn nhờ thế vẫn mang một phần “hồn vía vật chất” của ngôi nhà cũ.

Trên nền của ngôi nhà lang bị cháy, và trên chính những thân cột còn xém những vết cháy, hình hài một ngôi nhà lang đã dần hiện hữu. Toàn bộ quá trình phục dựng đã được họa sỹ Vũ Đức Hiếu và những người bạn ghi lại một cách cẩn thận.

Và cuối cùng, thời điểm mong đợi cũng đến. Vào tháng 1/2016, ngôi nhà Lang đã được hồi sinh.

Trong lễ khánh thành nhà Lang, những hoạt động vui chơi, trò chơi dân gian đã được tổ chức, tiếp đón những người bạn và những vị khách du lịch.

Từ khi bắt tay vào dựng nhà lang đến khi làm lễ mừng nhà Lang, họa sỹ Vũ Đức Hiếu đã thực hiện đúng những nghi lễ dựng nhà của người Mường, đặc biệt là nhờ cậy đến những mo mường. Trong quá trình dựng nhà của người Mường, thầy mo có vai trò quan trọng. Mở đầu việc dựng nhà, ông mo làm lễ cắm cọc vào nơi làm cầu thang. Sau đó, chủ nhà cày ba luống làm lệ trên nền làm nhà. Ông mo đi sau vảy nước vào những luống cày đó và khấn vía lúa. Người làm nhà chuẩn bị vài cụm lúa đã tuốt hết hạt chỉ còn cọng rơm ném ra xa rồi cầm đòn xóc đâm vào cụm lúa nâng lên. Mỗi lần nâng đòn xóc lên rồi lại để xuống và hát giang ý nói rằng "lúa đẹp, lúa nặng, lúa bay về nhà để cho no cho đủ…". Ông mo nâng các cụm lúa lên trên tay rước đi vài vòng rồi giang mo "đẻ đất đẻ nước" đoạn nói về rùa dạy dân làm nhà. Tiếp theo ông mo vảy một thứ nước mà người Mường cho đó là nước phép vào những hố chôn cột để xin thần linh cho gia chủ làm nhà mới. Nhà làm xong, gia đình lại tổ chức cúng tổ tiên, thổ công, ma rừng, ma cây, ma bến nước, ma đồi gò… thông báo rằng gia đình đã có một ngôi nhà mới, mời tổ tiên về chung vui với con cháu phù hộ gia đình may mắn.

Trong ngôi nhà của người Mường, bếp lửa rất quan trọng. Trong ngôi nhà lang có bếp chủ và bếp khách. Bếp khách là không gian dành cho những người đàn ông, bếp dùng để đun nước pha trà tiếp đãi khách và sưởi lửa về mùa đông. Bếp chủ: Bếp dành cho sinh hoạt nấu nướng hàng ngày của gia đình và gắn với người phụ nữ. Công việc đắp bếp, nhóm lửa rất quan trọng, được coi như một nghi lễ.

Trước tiên, gia đình sẽ làm bộ khung bếp bằng bốn thanh gỗ tốt và dày, ghép cố định với nhau theo hình vuông hoặc hình chữ nhật. Trong lòng bếp, phần tiếp giáp mặt sàn họ trải một lớp bẹ của cây chuối tươi. Trên lớp bẹ cây chuối tươi để năm vỏ cây núc nắc, bốn vỏ đặt ở bốn góc bếp, một vỏ để ở chính giữa bếp, với tín ngưỡng của người Mường cho rằng: vỏ cây núc nắc sẽ tạo sự mát mẻ, tránh được hỏa hoạn. Tiếp theo, đổ những sọt đất vào trong lòng bếp với những sọt đất lẻ, sọt cuối cùng đổ một nửa sọt vào khung bếp, nửa còn lại đổ trả về cho đất, với quan niện “Không lấy hết cái gì bao giờ”; nơi cư trú của người Mường thường ở những thung lũng đá vôi hay những khe suối, điều kiện sống phần đa dựa vào thiên nhiên, vì vậy, khi săn bắt, hái lượm trên rừng - đánh bắt dưới suối họ không lấy hết thứ gì cả mà sẽ để lại một phần dành cho thế hệ con cháu mai sau. Khi đổ những sọt đất sẽ kê ba hòn đá dùng để nấu nướng, đó cũng là tục thờ đá của người Mường. Chi tiết này thể hiện sự chung gốc của người Mường với tín ngưỡng thờ vua Bếp và người Việt là ba ông Đầu Rau. Tuy nhiên, người Mường không có Tết ông Công, ông Táo vào 23 tháng Chạp Âm lịch mà sẽ cúng vua Bếp vào những dịp tết Nguyên đán, tết Cơm mới…

Bên trên bếp làm các giàn “khựa” và “rớng” để đồ dùng, thực phẩm, lương thực giữ trữ chống mối mọt. Xung quanh bếp có đặt hũ mẻ, các vại măng chua và các gia vị ưa thích của người Mường. Bếp có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của người dân Mường; hơn nữa chứa đựng những tập tục sinh hoạt đặc sắc. Vì vậy, khi làm bếp mới, gia đình nào cũng phải có tục đắp bếp và lễ nhóm bếp.


Hiện diện trong ngôi nhà lang là những phần chi tiết đã bị cháy xém, những mảnh chiêng, đồ dùng bằng đồng, khung cửi, thổ cẩm đã bị cháy… được giữ lại để tiếp tục kể câu chuyện văn hóa về ngôi nhà Lang.

Từ khi phục dựng nhà lang, đến những nghi lễ được thực hiện một cách chuẩn chỉ, họa sỹ Vũ Đức Hiếu - mà những người yêu mến vẫn thường gọi là Hiếu Mường, mong muốn ngôi nhà Lang, cũng như không gian văn hóa Mường thực sự thuộc về người Mường. Hơn ai hết, họa sỹ Vũ Đức Hiếu nhìn thấy rõ những mất mát và biến dạng của văn hóa Mường trong đời sống hiện đại bởi những lý do chủ quan lẫn khách quan.

Hồi sinh từ trong những tàn tro - hy vọng đó là một tính hiệu đáng mừng của văn hóa Việt, trước những băn khoăn của rất nhiều người. Nhưng có những đám cháy mà chúng ta không thể cứu vãn nổi, có những mất mát mà chúng ta không thể cứu vãn nổi nếu vẫn tiếp tục một thái độ thờ ơ và ứng xử thiếu hiểu biết về văn hóa. Để có được điều này, phải có những người mơ mộng - hoàn toàn - tỉnh táo và một cộng đồng tin vào sự bền vững của những giá trị văn hóa, sức mạnh của cộng đồng vượt lên trên những toan tính tị hiềm.

Ngôi nhà Lang hồi sinh là một cái kết có hậu cho những nỗ lực bảo vệ những giá trị truyền thống cũng như những suy tư trăn trở của những người “gác đền” trước một đời sống mà những giá trị tinh thần, văn hóa không được coi trọng đúng mức, trước những nền tảng văn hóa đang bị đứt gãy bởi đời sống vật chất.
Theo Nhật Minh - Hồng Phong / VTC

Đền Thác Bờ linh thiêng ở Thung Nai

Người Hòa Bình.Com - Nếu như mùa hè, Thung Nai hấp dẫn bởi vẻ đẹp kỳ thú như Hạ Long trên cạn thì xuân đến, đền Thác Bờ lại tấp nập du khách thập phương hành hương lễ bái.

Thác Bờ xưa còn gọi là thác Vạn Bờ, được tạo bởi hàng trăm mỏm đá lớn nhỏ nhấp nhô như đàn voi khổng lồ giữa dòng sông Đà. Theo truyền thuyết, đền thờ bà chúa Thác Bờ là Đinh Thị Vân – người Mường và một bà người Dao ở Vầy Nưa, có công giúp vua Lê Lợi về quân lương, thuyền mảng vượt thác Bờ tiến quân lên Mường Lễ, Sơn La dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn.

Sau khi mất, hai bà thường hiển linh giúp dân vượt thác an toàn, phù hộ cho trăm dân trong vùng mưa thuận, gió hòa. Bởi vậy, nhân dân trong vùng phong cả hai là Bà chúa Thác Bờ và lập đền thờ phụng.

Trước đền Thác Bờ thuộc xã Hào Tráng, sau nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính, hiện đền tọa lạc tại xã Thung Nai, huyện Cao Phong và xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.


Đền thờ Chúa Thác Bờ có hướng nhìn ra hồ thơ mộng. Ảnh: Lam Linh

Đền Thác Bờ phía tả ngạn thuộc huyện Đà Bắc nằm trên đỉnh đồi Hang Thần ở xóm Phố Bờ. Từ dưới bến thuyền du khách phải leo hơn 100 bậc, sau đó theo một triền dốc thoải mới mới đến nơi. Đền gồm 3 gian, mái đền bằng bê tông cốt thép, được thiết kế theo kiểu vòm cuốn và kiến trúc mặt bằng hình chữ đinh gồm: nhà Đại bái và nhà Hậu cung, phía trước đền gồm 5 cửa (ngũ quan). Hiện nay tại di tích này còn lưu giữ được một quả chuông đồng được đúc vào tháng 2, năm Thành Thái thứ 6.

Đền Thác Bờ phía hữu ngạn huyện Cao Phong tọa lạc trên sườn đồi Sầm Lông, thuộc xóm Đền. Trước đây đền Thác Bờ chủ yếu được dựng lên từ tranh, tre, nứa, lá ngay dưới chân Thác Bờ. Sau này, nước dâng cao do Nhà máy thủy điện Hòa Bình trên Sông Đà khởi công xây dựng nên ngôi đền phải di rời lên sườn núi ngay cạnh bờ sông. Vào mùa khô muốn thăm đền, du khách phải leo bộ hết 108 bậc. Nhưng vào mùa mưa n­ước dâng lên sát nền móng đền, khách có thể lên thẳng khi thuyền bè cập bến.


Lễ hầu đồng trong đền thờ Chúa Thác Bờ. Ảnh: Lam Linh

Ngoài thờ bà Chúa Thác Bờ, đền hiện nay còn thờ các vị thần, thánh trong tín ngưỡng dân gian người Việt như: Công đồng quan lớn, Ngũ vị Tôn ông; bà chúa Sơn Trang (Động Sơn Trang); Tứ phủ Thánh cô, Tứ phủ Thánh cậu; Đức Đại vương Trần Quốc Tuấn; Tứ phủ Chầu bà; Tam toà Đức Thánh Mẫu...

Đền Thác Bờ tuy không hoành tráng, đồ sộ như nhiều nơi khác nhưng vẫn rất uy nghi và nổi tiếng linh thiêng. Nơi đây có địa thế phong thủy hài hòa và hùng vĩ, sau lưng là núi, trước mặt là sông nước hữu tĩnh, thuyền bè qua lại. Lễ hội Đền Bờ diễn ra từ ngày 7 tháng giêng và kéo dài tới hết tháng 3 âm lịch. Tuy nhiên, ngay từ tháng Chạp, nơi đây đã tấp nập dòng người đổ về lễ tạ, khiến tàu thuyền đậu kín các bến cảng.

Người đi lễ sẽ cầu nguyện ở đền Trình rồi lên đền Chúa, mỗi ngôi đền nằm trên một hòn đảo cách xa nhau khoảng gần 20 phút đi thuyền. Vừa đi lễ, vừa thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình của vô vàn đảo đá nhấp nhô trên mặt nước, du khách sẽ thấy lòng mình bình yên. Hành lễ xong, khó ai có thể cưỡng lại sự hấp dẫn của những xiên cá nướng sông Đà vàng ruộm, thơm lừng bày bán phía chân đền.


Cá nướng sông Đà. Ảnh: Lam Linh

Khi đã ấm lòng và thụ hưởng lộc dâng, chuyến du xuân sẽ tiếp tục với hành trình du lịch lòng hồ sông Đà và mãn nhãn với tiên cảnh trong lòng động Thác Bờ. Cả rừng nhũ đá trong động đua nhau mọc lên, vươn xuống, với vô vàn hình thù lạ mắt khiến du khách đến thăm không khỏi sững sờ, choáng ngợp. Trong động có đặt bàn thờ Quan thế âm Bồ tát, Phật tổ quan âm và Bác Hồ, bạn cũng có thể thành tâm lễ viếng.

Cách Hà Nội 110 km và 15 phút đi thuyền, đền Thác Bờ là điểm du lịch tâm linh lý tưởng và hấp dẫn với du khách trong dịp đầu năm.

Vy An - dulich.vnexpress.net

Hòa Bình 9 điểm bắn pháo hoa Tết Bính Thân 2016

Người Hòa Bình.Com - Kế hoạch tổ chức bắn pháo hoa nhân dịp Tết Nguyên Đán Bính Thân 2016 tại tỉnh Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình có 9 điểm bắn pháo hoa giao thừa.


Tỉnh Hòa Bình có 9 điểm bắn pháo hoa giao thừa Tết Bính Thân. (Ảnh minh họa)
Hòa Bình tổ chức bắn pháo hoa giao thừa Tết nguyên đán Bính Thân 2016 tại 9 điểm sau:

1. Tại cầu Hòa Bình, TP Hoàn Bình

2. Khu 1, Thị trấn Chi Nê, huyện Lạc Thủy

3. Đồi Châu, Thị trấn Vụ Bản, Huyện Lạc Sơn

4. Trung tâm huyện Đà Bắc

5. Trung tâm huyện Cao Phong

6. Sân vận động huyện Kỳ Sơn

7. Xóm Đường, xã Trung Bì, Huyện Kim Bôi

8. Nhà văn Hóa trung tâm huyện Tân Lạc

9. Sân vận động huyện Yên Thủy.

N.K - infonet.vn

Hòa Bình chiều đông

Người Hòa Bình.Com - Một bài thơ giãi bày nỗi lòng của người con xa quê hương Hòa Bình yêu dấu, người Hòa Bình xin trích dẫn bài thơ này để mọi người cùng thưởng thức


Hòa Bình chiều đông

Nghe tin gió lạnh chiều nay
Vội điện cho mẹ về ngay Hòa Bình

Bảo rằng là rất tình hình
Giờ tuyết phủ trắng quê mình đấy con

Thương mẹ giấc ngủ không tròn
Đôi mắt ướt lệ hao mòn chứ đâu

Mong rằng đông sẽ qua mau
Để cho xương khớp đỡ đau mẹ à

Đi làm với cảnh xa nhà
Con thương bố mẹ ông bà ở quê.

Tác giả: Sơn (Tân Lạc)
Top