12 thg 5, 2016

Kỷ yếu 12XH2 THPT Công Nghiệp - Hòa Bình

Người Hòa Bình.Com - Clip kỷ yếu lớp 12 Xã Hội 2 trường THPT Công Nghiệp thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình. Sau 3 năm gắn bó đèn sách cũng bạn bè thầy cô, mỗi chúng ta hãy giữ cho nhau những kỷ niệm đẹp để nhớ về một thời áo trắng tới trường.


Chúc các em thành công trên con đường mới

+

11 thg 5, 2016

Hòa Bình đóng vai trò là vùng sinh thái

Người Hòa Bình.Com - Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 768/QĐ-TTg, phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.


Hồ Hòa Bình, một vùng du lịch đầy tiềm năng của Việt Nam

Phạm vi Vùng Thủ đô Hà Nội gồm Hà Nội và 9 tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Hòa Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang; trong đó Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang là 3 tỉnh được mở rộng (so với quyết định phê duyệt quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ). Tổng diện tích toàn vùng khoảng 24.314,7km2. Trên cơ sở vị trí, vai trò, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, các tỉnh trong vùng tạo thành các mối liên kết với những đặc trưng và lợi thế riêng; chia sẻ chức năng, hỗ trợ phát triển để khai thác tối đa các tiềm năng, động lực của địa phương trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của từng tỉnh và toàn vùng.

Thủ đô Hà Nội, tỉnh Vĩnh Phúc và Bắc Ninh là các địa phương có tốc độ đô thị hóa cao; có vị trí trung tâm của toàn vùng trên cơ sở vị thế của Thủ đô Hà Nội. Các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và Hà Nam phát triển dịch vụ công nghiệp - đô thị kết nối trung tâm Vùng Thủ đô Hà Nội với cửa ngõ kinh tế biển; phát triển các khu công nghiệp sạch, công nghiệp hỗ trợ, logistics, trung tâm thương mại, y tế, đào tạo, thể dục thể thao, chế biến nông phẩm cấp vùng.

Hòa Bình đóng vai trò là vùng sinh thái, đảm trách chức năng chính về hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia, liên vùng. Phú Thọ phát triển du lịch văn hóa - di sản, du lịch sinh thái… Thái Nguyên phát triển về y tế, giáo dục - đào tạo chất lượng cao cho Vùng Thủ đô Hà Nội và toàn quốc... Bắc Giang là cửa ngõ xuất nhập khẩu, trung tâm tiếp vận - trung chuyển hàng hóa của Vùng Thủ đô Hà Nội với Cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn)...

Hải Dương
+

9 thg 5, 2016

Mùa hè nên đi thung lũng Ba Khan tại Hòa Bình

Người Hòa Bình.Com - Có phải các bạn đang có ý định đi du lịch vào mùa hè này, nhưng chưa biết mình sẽ đi đâu phải không nào ?. Không sao mình sẽ giới thiệu với bạn ngay 1 địa điểm du lịch chắc chắn sẽ rất thích thú đó chính là thung lũng Ba Khan ở Hoà Bình – nơi đây được mệnh danh là thiên đường vịnh Hạ Long trên cạn đó các bạn ạ


Ba Khan là một xã thuộc huyện Mai Châu (Hòa Bình) nằm ven con sông Đà hùng vĩ. Bất kỳ ai khi đặt chân đến đây đều không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh đẹp non nước hữu tình như tranh vẽ.


Để đến được với thung lũng tuyệt đẹp này, các bạn có thể đi theo nhiều đường khác nhau. Và đây là 2 con đường chủ yếu mà dân phượt hay đi đó là đi xe khách từ Hà Nội lên đèo Thung Khe hoặc đi xe máy theo quốc lộ số 6. Nơi đây hứa hẹn là điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách bởi khung cảnh hoang sơ và cực kì thơ mộng mà thiên nhiên ban tặng cho nơi này

Đoạn đường đến Ba Khan hạy qua rất nhiều cảnh đẹp: những con đường mòn uốn mình bên dòng sông Đà được che mát bởi những rặng tre xanh rì rào, những con đường dốc ngược, xẻ núi chạy bên những vách đá dựng đứng hay những bản làng yên bình. Trên đường bạn có thể ngắm một phần hồ sông Hòa Bình với non xanh nước biếc, những ốc đảo thanh bình.

Hãy đến Ba Khan một lần để cùng hòa mình với thiên nhiên, cảm nhận được không khí trong lành nơi đây.
















theo Phượt ký của Ngô Huy Hòa, vivutravel
+

2 thg 5, 2016

Những địa điểm không thể bỏ qua khi du lịch ở Hòa Bình

Người Hòa Bình.Com - Du lịch Hòa Bình hấp dẫn du khách bởi những nét văn hóa vô cùng đặc sắc của các dân tộc miền nùi đang sinh sống tại đây.


Những địa điểm không thể bỏ qua khi đi du lịch ở Hòa Bình

Thiên nhiên cũng ban tặng Hòa Bình rất nhiều những phong cảnh hùng vĩ tráng lệ, những thung lũng quanh năm mây mờ che phủ, những ngọn thác bình lặng chảy ngày qua ngày, những hang động kì bí....Tất cả vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đây đều mang lại cho Hòa Bình một tiềm năng du lịch rất lớn.

Sau đây chũng tôi xin giới thiệu đến các bạn những địa điểm du lịch thú vị ở Hòa Bình.

Mai Châu – Hòa Bình


Nói đến du lịch Hòa Bình thì địa danh nối tiếng với du khách nhất có lẽ là Mai Châu. Tận dụng được lợi thế du lịch thiên nhiên của mình, Mai Châu đang ngày càng hoàn thiện mình với các dịch vụ nghĩ dưỡng, tham quan để giúp cho du khách thuận tiện nhất khi đến du ngoạn tại mảnh đất này.


Mai Châu - Hòa Bình là một trong những địa điểm không thể bỏ qua khi đi du lịch ở Hòa Bình

Ở Mai Châu có 2 bản làng ghi lại nhiều dấu ấn cho du khách nhất đó là bản Lác và bản Poom Coọng, không phải là những nơi sầm uất, tấp nập, không cao lương mĩ vị, tất cả đều rất dân dã, gần gũi thiên nhiên. Những điều tưởng chừng như bình dị ấy lại chính là nét thu hút của nơi đây, du khách đến sẽ cảm nhận được sự hiếu khách, thân thiện của những người nông dân chân chất, hiền hòa. Thoát khỏi sự ồn áo, tấp nập chốn thành thị. Những ngôi nhà bên bờ hồ, những hàng cây xanh mướt trải đều khắp bản, làng, cảm giác như tất cả cảnh vật cho tới con người nơi miền núi này đều hòa vào thiên nhiên núi rừng hùng vĩ vậy.

Ngoài ra với những du khách ưa thích khám phá, Mai Châu còn có 2 hang động đẹp mê hồn là hang Mỏ Luông và Hang Chiều, với những dải thạch nhũ trải dài khắp hang, ánh sáng từ ngoài cửa hang chiếu vào tạo ra khung cảnh vô cùng sinh động.

Thung Nai – Hòa Bình




Thung Nai

Thung Nai trong nhiều năm gần đây là điểm đến quen thuộc mỗi dịp cuối tuần của những người yêu thích bình yên, tránh ồn ào, khói bụi. Là một xã thuộc huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, Thung Nai nằm trong lòng hồ sông Đà, cách trung tâm thành phố 25 km và Hà Nội khoảng 110 km.

Nhà máy thủy điện Hòa Bình


Nhà máy thủy điện Hòa Bình

Nằm ở TP Hòa Bình, trên dòng sông Đà hung vĩ. Đây là công trình thủy điện lớn nhất của Việt Nam do Liên Xô (cũ) giúp công xây dựng.


Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình là trung tâm điện lực lớn nhất Việt Nam, nằm trong bậc thang các nhà máy thuỷ điện trên sông Đà. Công trình này có chức năng tổng hợp 4 nhiệm vụ chính: chống lũ, phát điện, tưới tiêu và đảm bảo giao thông thuỷ.

Khu du lịch suối khoáng Kim Bôi

Suối nước nóng Kim Bôi Hoà Bình: là một suối khoáng nóng tự nhiên thuộc xóm Mớ Đá, xã Hạ Bì, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, cách Hà Nội khoảng 70Km theo quốc lộ 6, và cách thành phố Hòa Bình khoảng 30 Km.


Khu du lịch suối khoáng Kim Bôi

Do nằm sâu dưới lòng đất nên nước khoáng phun lên luôn luôn ở nhiệt độ 36°C, khi lộ thiên nước có nhiệt độ 34-36ºC. Nguồn nước khoáng này có đủ tiêu chuẩn dùng làm nước uống, để tắm, ngâm mình chữa các bệnh viêm khớp, đường ruột, dạ dày,huyết áp.
Khách Sạn tại Khu du lịch Suối Khoáng Nóng Kim Bôi có gần 100 phòng nghỉ đầy đủ trang thiết bị hiện đại, hệ thống nhà hàng, hội trường, bể bơi,… mới nâng cấp đạt tiêu chuẩn chất lượng 3 sao. Bạn có thể nghỉ ngơi, tắm suối khoáng, tổ chức giao lưu văn nghệ đốt lửa trại, thưởng thức các chương trình văn nghệ cồng chiêng và rượu cần đặc sắc, tổ chức nghỉ dưỡng hay tổ chức Hội nghị Hội thảo.

Cửu thác Tú Sơn


Cửu thác Tú Sơn được ví như danh thắng “đệ nhất’ xứ Mường với núi non hùng vĩ, suối thác thơ mộng, cùng khí hậu mát mẻ trong lành khiến ai đến đây cũng đều ngỡ như đang lạc bước ở Đà Lạt, hay đắm mình trong sương sớm Sapa.

Cách thành phố Hoà Bình trên 20km, cách thủ đô Hà Nội 60km, khu du lịch sinh thái Cửu Thác Tú Sơn nằm trên địa phận xóm Củ, xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi (tỉnh Hoà Bình), cạnh đường quốc lộ 12B, gần khu suối khoáng nóng Kim Bôi. Đường lên với Cửu thác, du khách có thể cảm nhận được sự mộc mạc, hoang sơ từ cảnh vật đến cả nếp sống của đồng bào dân tộc nơi đây. Người dân sống quanh khu cửu thác chủ yếu là người Mường.

nguồn bài: phunutoday.vn
+

21 thg 4, 2016

Trống đồng – Báu vật xứ Mường

Người Hòa Bình.Com - Trống đồng trở thành một phần trong văn hóa, tâm thức, tạo lập một vị thế quan trọng trong đời sống tinh thần của người Mường ở Hòa Bình.

Văn hoá Hoà Bình là một nền văn hóa đa dân tộc, trong đó dân tộc Mường chiếm một tỉ lệ khá lớn tới hơn 60% dân số. Văn hoá Mường và những nền văn hoá khác đã tập hợp lại và làm nên những nét riêng của văn hoá Hoà Bình. Bản sắc văn hoá Hoà Bình bao gồm: văn hoá Cồng Chiêng, các truờng ca, văn hoá ăn, ở, mặc và đặc biệt là văn hoá trống đồng. Vốn là người dân tộc Mường, hơn 30 năm nay ông Bùi Thanh Bình đã sưu tầm, lưu giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cổ truyền của dân tộc mình. Sau những năm tháng miệt mài tìm kiếm, bảo tàng của ông đã có vô số hiện vật về cuộc sống, văn hóa và con người Mường. Một trong số đó phải kể đến những chiếc trống đồng của người Mường.


Những chiếc trống đồng được sưu tập và trưng bày tại Bảo tàng tỉnh là những hiện vật vô giá trong các giai đoạn phát triển của nền văn hóa Hòa Bình.

Hiện nay, tổng số trống đồng phát hiện được tại Hoà Bình đến nay là 112 chiếc. Ngày xưa, trống Đồng rất được coi trọng, nó vừa là một công cụ, vừa là nhạc cụ và được sử dụng hầu hết trong các nghi lễ quan trọng : tế thần, cầu mưa, hội hè, tang lễ. Trống Đồng là biểu hiện của uy quyền, của giàu sang, của thế lực. Tiếng trống đồng là hiệu lệnh thúc giục tiến quân khi có kẻ thù xâm lăng đất nước, là vật tuỳ táng theo người quá cố. Chính vì vậy, trống Đồng còn mang những giá trị về tôn giáo, xã hội.

Theo sự phân loại của Heger- một học giả người Áo, đưa ra từ năm 1902, trống đồng Hoà Bình được xếp vào loại trống Heger II. Cách phân loại này của ông đã được số đông học giả trên thế giới cũng như các nhà khoa học Việt chấp nhận trong việc nghiên cứu về trống đồng Việt nói chung, trống đồng Hoà Bình nói riêng. Về hình thức, trống đồng Mường vẫn còn giữ khá nguyên vẹn những truyền thống của trống đồng Đông Sơn. Các hoa văn trang trí trên trống Heger II khá phong phú, đi từ xu hướng hình học hoá, cách điệu hoá đến xu hướng tả thực và ở giai đoạn cuối lại quay về lối trang trí hoa văn hình học hoá. Trống Heger II, trên mặt trống thường có 4 con cóc tượng trưng cho việc gọi nước về giúp cho mùa màng.

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, trống đồng Heger II xuất hiện và phát triển trong một thời gian dài, phân bố trong một không gian khá rộng, tập trung ở những vùng cư trú của người Mường. Các nhà nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ “không gian Mường” để xác định sự phân bố của trống đồng Hoà Bình. Dù ngày nay, vấn đề tìm hiểu, kết luận một cách chính xác nguồn gốc kỹ nghệ chế tạo, nguồn gốc của mục đích chế tạo, nguồn gốc về chủ nhân sử dụng…chưa có được lời giải đáp thoả đáng, song sự hiện diện của loại trống đồng Heger II trên vùng cư trú của người Mường trong gần một thiên niên kỷ là một bằng chứng hùng hồn của truyền thống Đông Sơn, là sự tiếp nối và sáng tạo nền văn hoá, văn minh Việt cổ.

Từ những giá trị tự thân của hiện vật, có thể khẳng định trống đồng là tài sản quý giá được coi là báu vật mà cha ông để lại, là biểu tượng của nền văn minh và văn hoá Việt Nam thời dựng nước. Trong đó, Hoà Bình là một trong những tỉnh phát hiện và lưu giữ nhiều trống đồng nhất trong cả nước. Trống đồng đã từng gắn bó với cuộc sống của người Mường. Trở thành biểu tượng văn hoá, làm nên bản sắc Mường nên việc bảo tồn, giữ gìn, phát huy giá trị của trống đồng chính là giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá đặc trưng của dân tộc Mường.

Xem nội dung chi tiết tại đây:



VOVGiaoThong.vn
Video: Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam
+

6 thg 4, 2016

Du lịch Chùa Tiên

Người Hòa Bình.Com - Chùa Tiên – Mẫu Đầm Đa (hay còn được người dân gọi là Chùa Tiên – Đầm Đa) là một ngôi chùa thuộc địa phận xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Chùa được Bộ văn hóa – Thông tin Việt Nam cấp bằng di tích lịch sử văn hóa tháng 9 năm 1989.


Khu Du lịch Chùa Tiên – Đầm Đa là một quần thể du lịch bao gồm nhiều hang động, đền chùa tuyệt đẹp, nằm bên kia sườn dãy núi Hương Sơn Chùa Hương. Ngoài ra quần thể danh thắng Chùa Tiên là di chỉ khảo cổ học cấp quốc gia.


Lễ hội chính của chùa Tiên được tổ chức vào 3 ngày: 4 – 6 tháng Giêng và kéo dài cho đến hết tháng Tư âm lịch. Mỗi năm lễ hội lại được tổ chức quy mô hơn, đông vui hơn, du khách bốn phương tìm về nhiều hơn. Gọi là lễ hội Chùa Tiên, nhưng đây là lễ hội chung cho cả khu di tích mà địa điểm chính được đặt ở Chùa Tiên.


Đến với lễ hội Chùa Tiên, du khách sẽ được thưởng thức một di sản văn hoá vừa vật thể, vừa phi vật thể. Những chiếc kiệu như từ truyền thuyết đi ra, như từ dã sử xuất hiện, vừa lạ vừa quen, vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, vừa bình dị vừa thiêng liêng. Những chiếc kiệu Thành hoàng làng là trung tâm của đám rước, được khiêng trên đôi vai của các nam thanh nữ tú dân tộc Mường. Chiếc kiệu được rước trên những đôi vai của niềm tin, của lòng thành kính và của những ước mong. Kiệu Thành hoàng có thể đi, có thể chạy, có thể bay khi có niềm tin và niền tin vào sự linh thiêng được tăng lên.

Cùng với đám rước, là những nghi thức tế lễ: có dâng rượu dâng hương, có đọc sắc phong của triều vua xưa phong cho các vị Thành hoàng trong khu di tích, có dâng chúc văn cầu mong thần linh ban tặng mưa thuận gió hoà, nhà nhà an khang, xóm làng thịnh vượng… Đó là những nghi thức đã trở thành truyền thống để tôn vinh các vị thần Thành hoàng làng – những người đã vì nước vì dân được tôn thờ.


Chùa Tiên toạ lạc dưới chân núi Tung Sê trên một khu đất khá bằng phẳng có mặt tiền quay về hướng Đông Bắc. Theo truyền thuyết, Chùa Tiên được xây dựng từ rất xa xưa theo lối kiến trúc nhà sàn với nguyên vật liệu là tranh tre nứa lá. Trải qua năm tháng, ngôi chùa đã bị xuống cấp. Năm 1998, bằng nguồn vốn trùng tu tôn tạo di tích của Bộ Văn hoá Thông tin và sự đóng góp của chính quyền và nhân dân trong xã, ngôi chùa đã được trùng tu tôn tạo khang trang như ngày nay. Đến dâng hương tại Chùa Tiên, du khách sẽ có dịp được bày tỏ lòng thành kính lên các đức Phật các ước mong của mình.Phía sau Chùa Tiên ngay trong dãy núi Tung Sê, du khách sẽ được tới thăm danh thắng Động Tiên với nhiều điều kỳ thú. Đây là di tích khảo cổ đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng cấp quốc gia năm 1989.

Bên cạnh giá trị khảo cổ, động Tiên còn là di tích có giá trị thẩm mỹ cao. Đi sâu vào bên trong, ta sẽ bắt gặp không gian đầy huyền thoại. Ngẩng đầu lên ta bắt gặp một vòm trần lô nhô, đông đúc căng chật hàng trăm, hàng ngàn khối nhũ đá rủ xuống. Chỗ thì vàng óng toả ra như một rừng hoa, chỗ thì trắng xoá, bầu thon như những viên ngọc; chỗ thì rực rỡ như một căn phòng với các chùm đèn trang trí. Các khối nhũ đá được chạm chổ tinh tế những hình thù kỳ lạ, bí ẩn, đường nét uyển chuyển, mềm mại và khá cân đối.


Nét đặc biệt ở động Tiên là quần thể các cột đá mọc lên từ nền hang, giữa phòng là một khối nhũ lớn, xung quanh là bạt ngàn các cột nhũ nhỏ như hội quần tiên ở rừng thệ đà đông đúc các vị La Hán, các Bồ Tát, các thanh văn quây quần bên nhau nghe đức Phật Như Lai giảng kinh. Tất cả đều lặng lẽ trang nghiêm, không xô bồ ồn ã. Không gian cũng tĩng mịch u huyền càng tăng thêm vẻ tôn nghiêm. Và du khách càng ngắm, càng ngỡ như được đắm chìm vào tiên cảnh ấy. Và con người như được cảm thấy thanh cao hơn.
Theo cungphuot.info
+

13 thg 3, 2016

Khám phá Bản Lác

Người Hòa Bình.Com - Bản Lác, một thung lũng yên bình, hữu tình, là khu du lịch nổi tiếng của huyện Mai Châu, Hòa Bình. Chính vì lưu giữ và lan truyền được những nét văn hóa đặc sắc của vùng miền, du khách trong và ngoài nước nườm nượp đến với bản Lác để tận hưởng vẻ đẹp lãng mạn của Tây Bắc và hòa mình vào cuộc sống của đồng bào vùng cao.


Trước nhà sàn là nơi người dân bày bán những chiếc khăn với hoa văn thổ cẩm rất tinh xảo và độc đáo, những đồ lưu niệm, đồ trang trí (nguồn: Đỗ Thảo)

Dân trong bản Lác chủ yếu là người Thái đen, sống bằng nghề trồng lúa nương và dệt thổ cẩm. Các bé gái 8, 9 tuổi đã biết dệt, biết thêu khăn piêu, thêu áo váy. Phụ nữ Thái đen khéo léo và chăm chỉ dệt thổ cẩm, thêu thùa và sáng tạo ra những món đồ trang trí, đồ chơi từ thổ cẩm như vòng đeo tay, dây trang trí, quả còn, móc khóa, con thú, những chiếc ví cầm tay, túi xách, ba lô... xinh xắn và bắt mắt. Họ đem những món đồ làm ra từ bàn tay khéo léo bày bán ở các sạp hàng trước nhà, dưới chân cầu thang nhà sàn. Đồ lưu niệm được bày, được treo lạ mắt; những chiếc khăn, chiếc thảm, chiếc chăn với họa tiết cầu kì, phong phú được xếp trên các giá, xếp song song nhau thành hàng lối, tựa như một mê cung của thổ cẩm.


Khăn thổ cẩm được treo trên các giá, rất cuốn hút (nguồn: Đỗ Thảo).


Hai bạn trẻ mải mê trong mê cung của thổ cẩm (nguồn: Đỗ Thảo) 

Điểm bắt mắt hơn nữa là những chiếc váy, chiếc áo truyền thống của người Thái, người Mường được bày trước nhà sàn để bán và cho du khách thuê.  Du khách, đặc biệt là khách nước ngoài tha hồ lựa những bộ trang phục để hóa thân thành hoa của núi rừng Tây Bắc.


Các bạn trẻ hào hứng khi hóa thân thành những thiếu nữ vùng cao xinh đẹp.


Du khách nước ngoài hứng thú thử những chiếc khèn, tù và.

Được hòa mình trong nếp sinh hoạt đồng bào người Thái tại các nếp nhà sàn xinh xắn là trải nghiệm thú vị. Những nhà nghỉ homestay rộng rãi, thoáng mát, đầy đủ chăn, đệm, gối gọn gàng và khá tiện nghi, nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ, giúp cho du khách có thể cảm nhận trọn vẹn lối sống nơi đây, ngồi ở thềm của, nhâm nhi bầu không khí trong lành và thưởng ngoạn cảnh quan xinh đẹp như bức tranh của miền sơn cưới.


Những đồ lưu niệm được bày bán rất bắt mắt (nguồn: Đỗ Thảo)


Những con thú được may từ thổ cẩm, một món đồ lưu niệm khá độc đáo (nguồn: Đỗ Thảo)

Trong bữa cơm, với chén rượu ngây ngất, được thưởng thức những sản vật riêng có của núi rừng như măng đắng, gà đồi, cá suối, nếp nương... được bà con chế biến thành những món ngon say lòng người.


Gà đồi là món ngon không thể bỏ qua khi tới bán Lác (nguồn: Đỗ Thảo)


Măng đắng, món ăn khá lạ miệng và hấp dẫn của vùng cao (nguồn: Đỗ Thảo)

Không gian yên tĩnh của buổi tối bị phá vỡ khi những ánh lửa trại bừng cháy, du khách và bà con giao lưu đốt lửa trại, nhảy sạp, mê đắm trong tiếng khèn và điệu múa xòe Thái tình tứ.


Chàng trai vùng cao bên điệu khèn trong đêm lửa trại giao lưu với du khách (nguồn: Như Quỳnh)

Và sớm mai, tham gia phiên chợ của dân bản giữa tinh mơ trong trẻo, cùng dạo bộ thăm thú và mua sắm những vật phẩm mà bà con mang ra chợ trao đổi, ăn những món dân dã để thấy được những gì hồn hậu, thân thuộc nhất của vùng đất này.


Một khu homestay trong bản (nguồn: Đỗ Thảo)

Tất cả mọi nếp sinh hoạt, những vật dụng quen thuộc của cuộc sống vùng cao được tái hiện sinh động trong không gian của bản Lác, để lưu giữ nét đẹp của vùng cao và lan truyền những điều thú vị cho mọi miền.

Đỗ Thảo - Báo Lao Động
+

Tết của người Mường tại Hòa Bình có gì đặc biệt?

Người Hòa Bình.Com - Người Mường gọi là: Thết Năm mởi - dịch sang tiếng phổ thông là: Tết Năm mới, người Kinh gọi là Tết Nguyên đán.

Người Mường ăn tết trong 8 ngày

Theo phong tục truyền thống, người Mường ăn Tết cổ truyền kéo dài 7 ngày (thực chất là 8) ngày, bắt đầu từ 30 tháng chạp năm cũ đến hết ngày mồng 7 tháng giêng. Lịch Mường xưa là lịch tính theo tuần trăng, song cách tính khác chút với người Kinh, tính “ngày lui, tháng tới”.

Cách tính lịch của người Mường vẫn tính theo âm lịch, tuy nhiên lại lùi lại 1 ngày. Theo như lịchâm thông thường, ngày mồng một đầu tháng của người âm lịch không có trăng, song ngày mồng 1 lịch Mường đã cói trăng non, nghĩa là tính đúng theo tuần trăng. Cũng theo cách tính lùi như vậy, ngày 14 là ngày trăng tròn.

Người Mường có phong tục trồng cây nêu ngay cạnh ngõ ra vào, trong sân hay phía trước của ngôi nhà sàn. Cây nêu là một biểu tượng , một nét riêng trong văn hóa người Mường. Chuyện kể rằng, từ ngàn xưa, thuở hồng hoang mệ vua Hoàng Bà đi đánh quỷ, lũ quỷ thua to bỏ chạy, theo chỉ dạy của mệ vua các nhà đều cắm một cây nêu để báo tin thắng trận và nhận đất đai cho dân Mường.


Cây nêu được dựng lên ở mỗi nhà mỗi khi tết đến. Ảnh internet.

Sau này nó có ý nghĩa là sự báo cáo với đất, trời về sự tồn tại của gia đình mình và cũng là trấn tà không cho lũ quỷ thâm nhập vào nhà. Tục lệ này được duy trì đến ngày nay và cây nêu được cắm mỗi khi Tết đến, xuân về với ý nghĩa như trên.

Tại các địa phương như Cao Phong, Tân Lạc, Lạc Sơn, phong tục này vẫn được duy trì cho tới ngày nay.

Khác với người kinh thường đến khu mồ mả của tổ tiên để dọn dẹp và mời các cụ về ăn tết vào ngày 22,23 tháng chạp. Thì người Mường lại làm điều đó vào ngày 27 tháng chạp. Toàn bộ con cháu trong gia đình, dòng họ tập chung nhau lại, mang theo cuốc, xẻng, dao, đến đề dọn dẹp phần mộ của tổ tiên, đắp những phần bị sạt lở, phát đi những cây cỏ mọc dại trên phần mộ.

Ngày 27 tháng chạp ở vùng Lạc Sơn còn gọi là ngày tha lả - rửa lá: Các chị em phụ nữa mang toàn bộ bát đũa, xoong, nồi, lá dong... ra sông, suối rửa sạch sẽ. Cai viếng đồ cơm hàng ngày trong suốt năm hôm ấy được cọ rửa sạch sẽ và người ta thay khưa viếng mới... Các nông cụ như: cày, bừa, cuốc, xẻng cũng được rửa sạch sẽ để chúng cùng ăn Tết... Đây là hình thức tẩy trần, sạch sẽ để đồ vật và con người cùng đón năm mới, như thế mới gặp nhiều may mắn, an lành.

Bánh chưng, bánh uôi và thịt chua

Thông thường vào giữa hay nửa cuối tháng chạp, nhiều gia đình đã bắt đầu chặt nứa hay cây dang loại bánh tẻ về để tước, chẻ lạt gói bánh chưng, làm cặp nướng thịt.

Bánh chưng của người Mường về hình thức không giống như bánh của người Kinh. Bánh của người Mường làm bằng lá dong và lá chít, thân bánh hình dài và ít nhân. Theo những người cao tuổi ở đây, bánh dài sẽ để được lâu hơn và khi ăn sẽ rất tiện trong việc cắt bánh.

Một trong những đặc sản mà người Mường mời khách vào ngày tết này đó là món thịt chua. Thịt chua được làm từ 2 thành phần chính: thịt và thính xay mịn, cùng với đó là những nguyên liệu riêng, nhằm tạo ra một hương vị đặc trưng chỉ có ở vùng sơn nước Hòa Bình.


Món thịt chua của người Mường nơi đây.

Thịt chua thường được ăn cùng với nhiều loại rau sống, như rau mơ, lá sung, rau đinh lăng... Ngoài ra có thể kèm rau húng, bạc hà, rau mùi tùy thích. Thịt chua không ăn cùng với nước chấm pha loãng mà phải chấm với tương ớt mới đúng điệu. Ăn đến đâu là tưởng như quên trời quên đất đến đó. Bởi cái vị béo ngậy của mỡ lợn lửng, cái vị ngọt của thịt nạc, cái vị giòn của bì, vị mặn vừa của gia vị ướp cùng, pha lẫn vị chua lên men tự nhiên, rồi vị cay cay của ớt, vị chát của các loại rau, và đọng lại sau cùng là vị thơm lừng của thính.

Ngoài bánh chưng và thịt chua, thì bánh uôi cũng là một thứ không thể thiếu trong mâm cỗ của người Mường. . Bánh có rất nhiều tên gọi khá hay, ý nghĩa và mĩ miều khác như bánh tình yêu, bánh cặp, bánh vợ chồng hay bánh đoàn kết.

Nguyên liệu chính để làm nên loại bánh thơm ngon này là bột gạo nếp nương. Loại bánh rất giản dị, có hình dáng và hương vị rất đặc biệt đem lại sự thích thú cho người ăn. Bánh uôi có hai loại bánh nhân mặn và bánh ngọt. Bánh nhân ngọt được làm từ hạt nho nhe (một loại hạt có ở xứ Mường, Hòa Bình) hoặc từ đậu xanh. Còn nhân mặn sẽ có thịt lợn tẩm ướp gia vị.

Người Mường thường thịt lợn để ăn tết, mỗi phần thịt sẽ được chế biến các món khác nhau, từ bánh chứng, thịt chua đều phải dùng tới thịt lợn. Người Mường ở Lương Sơn họ thường tập chung nhau lại vào ngày 22 tháng chạp, cùng nhau mổ lợn để ăn tết.

Lợn được người dân nuôi từ đầu năm, theo cách chăn thả chứ không nhốt vào chuồng, tới cuối năm sẽ được một con lợn sạch, vào ngày 22 tức là ngày tạ mộ tổ tiên, họ cùng nhau thịt lợn và uống rượu ngô.

Bữa cơm chín lụi

Ngày 29 tháng chạp theo lịch Mường, tức ngày 30 Tết theo âm lịch, người Mường gọi ngày này là ngày chín lụn có bữa cơm chín lụn - nó tương đương như người Kinh gọi là bữa cơm tất niên, ăn vào buổi tối..., bữa cơm đoàn tụ gia đình trong năm.

Đây cũng là ngày các thầy mo, clượng, mỡi mang túi khót của mình ra, lấy rượu ngon rửa sạch sẽ. Đây cũng là ngày họ truyền dạy các lời khấn quan trọng, các bí quyết hành nghề cho con cháu và học trò.

Vào thời khắc giao thừa nhiều nhà đánh chiêng, đánh trống, con cháu ra vó nước lấy nước về đặt trên bàn thờ tổ tiên, nước này ở vùng Kim Bôi gọi là nước Tiên, ở vùng Lạc Sơn gọi là nước Thặng Thiên. Ở vùng Mường Bi còn có tục gội đầu giao thừa, thậm chí có người còn tắm trong đêm giao thừa. ý là gột rửa mình sạch sẽ để sang năm mới cho mọi điều tốt lành, đẹp đẽ và may mắn hơn. Trong các nhà lang, nhà giàu còn có tục xuống sướng, xuống chuồng đếm trâu, bò, lợn.


Nhiều nhà sẽ đánh chiêng vào thời khắc chuyển sang năm mới. Ảnh internet

Tục cúng thờ tổ tiên của người Mường là thờ đích danh chứ không thờ chung như các dân tộc khác, ví dụ như người Kinh họ chỉ có một mâm cỗ, một ban thờ mời tất cả tổ tiên về đó. Người Mường lại khác, các mâm thờ các đời thường thờ đích danh, ví dụ như mâm thờ ông, bà nội đã khuất..., người Mường sắp mâm riêng và đặt lên đó 2 bát cơm, 2 bánh chưng, bánh uôi, hai đôi đũa cùng thực phẩm, nếu ông nội có 2 - 3 bà vợ thì theo đó người Mường đặt lên tương ứng 2 - 3 bát cơm, đôi đũa...Việc thờ này tùy theo từng gia đình, ít nhất họ cũng thờ tới 3 đời... đến đả cổ, dạ cố, tương đương như ông cố, cụ cố bên người Kinh...

Vùng Lạc Sơn và nhiều vùng khác có tục đi năm mới, nhiều nơi gọi là đi phần - tức là mang phần cho bề trên, cụ thể là: bố, mẹ đẻ, bố mẹ vợ, các anh bên nhà vợ, các nhà thầy thuốc mình đã mang ơn trong năm qua... Tục này thường đi trong nhiều đời, nếu người được mang phần như bố, mẹ vợ không còn nữa thì con, cháu phải mang phần đến nhà ngoại và đặt vào bàn thờ của người đã khuất. Ngày đi năm mới bắt đầu từ ngày 30 Tết đến ngày mồng 7 tháng giêng, tức là ngày Khai hạ.

Lễ đi phần năm mới bao gồm: một gói thịt lợn, một gói cơm nếp, một chai rượu và 2 cái bánh chưng, ngày nay có thêm gói mứt, gói kẹo, hay chè, thuốc lá... Đây là phong tục biểu thị sự tri ân, biết ơn với bề trên, với những người có công giúp đỡ mình trong năm qua.

Ngay ngày mồng 1 Tết (tức mồng 2 theo âm lịch) các phường bùa bắt đầu đi xắc bùa phát rác, thực chất là đi các gia đình để chúc Tết. Cách chúc Tết này rất độc đáo và chỉ có riêng ở người Mường. Phường bùa thực chất là đội hình diễn tấu chiêng có từ 6 - 12 người, trong đó, có một người đứng đầu gọi là ông trùm phường.

Đoàn đi đến đâu tấu chiêng xắc bùa đến đó, khi vào đến sân nhà ai ông trùm phường cất bài hát chúc Tết gia đình, đó là bài phát rác, tức là mở nước, chúc cho gia đình chủ nhà mạnh khỏe, sang mùa năm mới làm ăn phát đạt, mát lành như nước, trồng lúa gặp đủ nước, chăn nuôi gia súc phát triển, làm ăn giàu có, sau đó gia chủ xuống sân mời phường bùa lên nhà uống chén rượu xuân.

Ngày mồng 7 tháng giêng tức là ngày Khai hạ, đây cũng là ngày cuối cùng của Tết. Các gia đình có tổ chức Tết lại, tức là làm làm lại Tết cũng sắp các mâm cúng mời tổ tiên và thành hoàng, thổ công vua bếp ăn Tết ngày cuối của Tết.

Ngày nay, mặc dù với sự giao thoa văn hóa ở các vùng miền diễn ra mạnh mẽ, nhưng người Mường vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng của vùng đất sơn cước Hòa Bình.

Công Luân - Báo điện tử Người đưa tin
+